29. Nợ ân tình
28. Tình người - Tấm lòng
27. Vòng quay chưa khép Đặng văn Tạo
26. Cái áo tai hại
25. Những đóa hoa trời Linh Thoại
24. Tấm áo thầy trao Lưu Đình Long
23. Chiếc bát vỡ
22. Sống ở đời Phạm Quốc
21. Cậu bé mù
20. Tiếng đóng cửa
19. Sự thay đổi
18. Chiếc bình cuộc sống
17. Không thể sửa chữa
16. Cố gắng trong từng việc nhỏ
15. Khóc
dùm
14. Một bài học
13. Coffee
on the Wall Rajni,
12. Le maître et
l'élève Guyau
11. No
lâu Dương
Nguyên
10. Quyển
sách Tăng
khắc Hiển
9. Giá
trị của ... 20 đồng Nguyễn Hoàng
8. Ông
đại tá Thích
Đức Thiện
7. Số
độc đắc Đặng Quách Tỉnh
6. Chiếc bình
nứt Sáng tác : Guyloup
5. Lung
linh ánh nến Trần Viết Sử
4. Nhân
nào quả nấy Tôn thất Bàng (dịch)
3. Phần
quan trọng nhất trên cơ thể ChipHN
2. Buổi
trưa yên ắng Lam Giang
1. Năm
mươi ngàn đồng của thầy tôi Phương Khánh
Cách đây ba tháng, thằng
con đang tuổi ăn tuổi lớn của tôi gây tai họa: nó làm nát bét chiếc xe gia đình
vì mải nhắn tin lúc lái. Ơn trời, không ai bị thương, nhưng bảng báo giá sửa xe
làm tôi muốn xỉu: 4.200 đô. Riêng tiền bảo hiểm bắt mình tự chịu đã là 2.500 đô
rồi. Tôi vừa giận, vừa run. Nhà làm gì có số tiền đó. Tôi phải cày hai công
việc một lúc, chồng tôi thì mất sức lao động. Có những tháng, cả nhà phải thắt
lưng buộc bụng, đắn đo mãi giữa việc đóng tiền điện hay mua đồ ăn.
Anh thợ sơn xe chỉ tôi đến một chỗ
dưới mạn Nam thành phố. — "Dưới đó rẻ hơn," ảnh nói. "Nhưng chỉ
nhận tiền mặt thôi nhé."
Tôi lái xe đến một nơi trông chẳng
khác gì bãi đồng nát. Xe cộ rỉ sét chất đống, cỏ dại mọc lởm chởm qua những vết
nứt bê tông. Tấm biển hiệu thì bạc phếch, treo lủng lẳng sắp rụng. Tôi đã định
quay đầu xe đi về cho rảnh nợ.
Thế rồi, một ông lão lẹt bẹt bước ra.
Chắc cũng phải 75 tuổi trở lên. Bộ đồ công nhân lấm lem dầu mỡ, đôi bàn tay hơi
run run. Ông nói với cái giọng địa phương đặc sệt: — "Xe cần sửa hả
cô?"
Tôi kể hết nỗi khổ của mình. Ông nhìn
cái xe, lầm bầm rồi đi vào trong. Một lúc sau, ông cầm ra cái bảng kẹp giấy: —
"Tôi lấy 800 đô thôi." Tôi há hốc mồm: — "Nhưng người ta bảo
tận..."
— "Kệ họ. Họ đòi thay đồ mới, sơn xịn
nên mới đắt," ông thản nhiên đáp. "Tôi có đồ tốt rồi, tôi sẽ làm cho
nó chạy chắc chắn là được. 800 đô nhé."
— "Dạ... rồi khi nào thì tôi phải
gửi tiền ông?" — "Giờ đưa trước 50 đô cũng được. Còn lại bao giờ có
thì đưa, không vội."
Tôi đứng ngẩn tò te: — "Sao ông
lại tin tôi thế?"
Ông nhìn tôi bằng ánh mắt của một
người đã trải đời: — "Hồi chiến tranh, có một người lạ đã giấu cả nhà tôi
trong kho thóc của họ suốt nửa năm trời. Họ chẳng lấy một đồng, chỉ dặn: 'Sau
này có điều kiện thì hãy giúp lại người khác'. Tôi thì chẳng có kho thóc nào để
giấu ai cả, nhưng tôi biết sửa xe."
Tôi đã đứng khóc ngon lành ngay giữa
cái bãi xe cũ nát đó.
Ông sửa xong trong ba ngày. Xe chạy êm
ru, chắc chắn. Lúc đến lấy xe, tôi thấy một bà cụ đang vừa khóc vừa múa may bên
chiếc xe móp méo của mình. Ông lão chỉ gật đầu, đặt tay lên vai bà cụ rồi cầm
lấy chìa khóa.
— "Lại một ca 'từ
thiện' nữa hả ông?" — Tôi hỏi khẽ.
Ông nhún vai: — "Chồng bà ấy mới
mất, chưa có lương hưu. Không có xe thì bà ấy không đi thăm cháu được. Thôi,
giúp bà ấy một tay."
Suốt hai tháng sau, mỗi lần có chút
tiền, 50 hay 100 đô, tôi lại mang qua trả ông.
Lần nào ghé, tôi cũng thấy một người
nào đó đang ở đó — khi thì anh bố đơn thân, lúc thì anh công nhân vừa mất việc.
Họ đều lái những chiếc xe nát tưởng chỉ có nước bán sắt vụn, nhưng vẫn chạy tốt
nhờ bàn tay ông lão — người chỉ lấy tiền theo kiểu "tùy tâm"... hoặc
chẳng lấy xu nào.
Lần cuối cùng sang trả nốt nợ, tôi tò
mò hỏi: — "Ông cứ làm thế này mãi thì sống sao nổi?"
Ông mỉm cười hiền từ: — "Cũng có
người trả đủ tiền mà cô. Tiền của họ giúp tôi duy trì cửa hàng, còn những người
trả ít giúp tôi duy trì... cái tâm mình. Thế là huề."
Tuần trước, tôi chạy ngang qua xưởng
của ông. Cửa đóng then cài, có tấm biển "Bán nhà" dựng trước sân. Tôi
hoảng quá, gọi ngay vào số điện thoại trên danh thiếp. Con gái ông bắt máy,
giọng nghẹn lại: — "Cha cháu mất hôm thứ Ba rồi cô ạ. Cụ bị đột quỵ ngay
tại xưởng."
Tôi lặng người, tim thắt lại.
— "Chị em cháu đang kiểm kê sổ
sách," cô ấy nói tiếp. "Trong ngân hàng cụ chỉ có 847 đô. Nhưng cuốn
sổ tay của cụ... có tận 73 người vẫn còn nợ tiền. Tổng cộng hơn 30.000
đô." Cô ấy dừng lại một chút, rồi kể: — "Cụ để lại mảnh giấy ghi:
'Xóa nợ hết đi. Họ cần cái xe để mưu sinh hơn là cha cần tiền'."
Đám tang ông hôm qua đông lắm. Cả 73
con người có tên trong sổ đều đến. Những người xa lạ không quen biết nhau,
nhưng đều mang ơn ông lão — người đã không bỏ mặc chúng tôi lúc khốn khó. Chúng
tôi gom tiền lại, trả hết các khoản nợ còn tồn của xưởng, rồi đưa phần còn lại
cho con gái ông.
Về nhà, con trai tôi hỏi: — "Mẹ
ơi, sao mẹ khóc nhiều thế? Mẹ có thân với ông ấy lắm đâu."
Tôi bảo con: — "Bởi vì ông ấy đã
dạy mẹ một bài học mà thế hệ của con cần phải biết. Mỗi ngày, con nhìn thấy rất
nhiều người — nhưng hãy thực sự nhìn thấy họ. Thấy cái xe họ hỏng, thấy lòng họ
đau, thấy túi họ rỗng. Lúc đó con phải chọn: mình sẽ là người chìa tay ra giúp,
hay là người quay lưng bỏ đi?"
Thằng bé im lặng. Tháng
trước, tôi thấy nó bắt đầu đi làm tình nguyện ở chỗ phát cơm từ thiện. Nó không
khoe khoang, cứ lặng lẽ mà làm thôi.
Cái xưởng của ông lão vẫn đang treo
biển bán. Tấm biển "Chỉ nhận tiền mặt" vẫn còn đó. Nhưng 73 người
chúng tôi đều hiểu ý nghĩa thật sự của nó là gì: Có bao nhiêu trả bấy nhiêu.
Lúc nào có thì trả. Nếu có thể thì trả.
Vì có những món nợ không thể tính bằng
tiền. Đó là món nợ của lòng trắc ẩn: Nhớ rằng vào cái ngày ta tuyệt vọng nhất,
đã có một người bằng lòng "sửa chữa" cuộc đời ta mà không đòi hỏi.
Thời
buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v.v... hạ
giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra
vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Leon Tolstoy, Tagore,
Dostoievski... đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng... cả thảy đều bị “hạ”
nằm la liệt.
Lắm
lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm
hỏi:
-
Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?
Cách
đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một
cuốn là “Hán Việt Từ Ðiển” của Ðào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là
“Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn
chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách
biên biết, bán cũng được lời.
Ngoài
bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse:
“Bibliothèque - Ðô Bi - Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức.
Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn
những tài liệu - tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới
dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!
Chiều
25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua
đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ
thơ Vũ Ðình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường
như tôi.
-
Anh mua bánh bò, bánh tiêu?
Một
chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai
bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến
cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:
-
Anh có bán... trả góp không?
-
Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời
bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?
-
Tôi cần mua cả hai - chị nói tiếp - xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi
nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.
Thấy
lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Ðô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám
(tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của Thầy, bèn nảy ý
chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào
được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả
góp.
Tôi
cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:
-
Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho Thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà
thôi, chị à.
-
Nhưng...
-
Ðừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.
Chị
lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.
-
Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn... cảm ơn... anh nhá!
Mai
lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể:
-
Thầy bi thảm lắm... Gần Tết, cô lại ngã bệnh... Thầy nhận sách, mừng mừng tủi
tủi tội ghê, anh à!... Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!
Tôi
vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:
“Hỡi
ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski... ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô... ơi! Có
những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu
tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là Tấm lòng”.
Tác
giả: Sưu
tầm
Ông Tường bước ra hiên nhà vào một buổi sáng cuối
thu. Mái ngói cũ phủ rêu, bậc thềm sẫm màu theo năm tháng. Sàn gỗ khẽ kêu dưới
chân ông, thứ âm thanh quen thuộc, đều đặn, như nhịp thở của căn nhà. Ánh nắng
nghiêng qua tán cau, rơi xuống hiên những vệt sáng mỏng, không gắt, không vội.
Trong
bếp, bà Tường đứng trước chiếc bàn gỗ. Chiếc điện thoại đặt dựa vào hũ gạo, màn
hình hiện gương mặt con dâu ở Nhật. Con dâu nói chậm, hướng dẫn từng bước làm
bánh. Bà nghe, gật đầu, tay trộn bột cẩn thận. Động tác của bà chừng mực, dè
dặt, như sợ làm sai điều gì đó không thể sửa lại.
Thuốc men, thực phẩm dinh dưỡng, bột làm
bánh Nhật… tháng nào cũng được gửi về đều đặn. Không thiếu. Nhưng trong lòng
bà, một khoảng trống vẫn hiện diện, lặng lẽ và bền bỉ.
Chiều xuống chậm. Ánh sáng trên sàn gỗ đổi
màu. Bà tắt máy sau cuộc gọi video, nhìn mẻ bánh còn dang dở. Bột đã trộn xong,
nhưng lòng chưa yên.
Nhà hàng xóm chiều nay làm bánh bèo,
bánh lọc. Mùi bột gạo, mùi lá chuối theo gió lan sang tận hiên. Một lát sau,
con dâu nhà bên ghé qua, đưa túi bánh còn ấm.
– “Mạ ăn cho vui.”
Bà nhận bánh, cảm ơn. Trong lòng chợt se
lại. Người ta muốn ăn bánh gì thì có người mua nguyên liệu, có người làm cùng.
Còn bà, muốn ăn cũng không ai chuẩn bị. Bà ăn những thứ gửi từ xa về, sống theo
một nhịp sinh hoạt không phải của mình.
Chiều tối, bà gọi cho con gái.
– “Con mua giúp mẹ bánh Bà Đỏ nghen.”
– “Dạ, để con mang cả túi về.”
Bà đặt điện thoại xuống. Có bánh ăn,
nhưng là bánh mua sẵn. Cảm giác khác đi, dù không nói được vì sao.
Ông Tường đứng ở ngưỡng cửa bếp, nhìn bà
loay hoay với bột.
– “Bà làm chi mấy thứ rườm rà. Ăn uống đủ
là được.”
Bà dừng tay.
– “Không phải chỉ để ăn.”
Ông nhíu mày.
– “Ở nhà sống cho nhẹ, theo kịp làm
chi.”
Bà quay lại nhìn ông. Giọng bà thấp,
nhưng rõ:
– “Tôi cần cảm giác mình còn liên hệ với
con cái, dù nó ở xa.”
Không ai to tiếng. Nhưng khoảng cách giữa
hai người bỗng hiện ra, rõ ràng như một lối đi hẹp. Ông bước ra hiên. Sàn gỗ
kêu lên dưới chân. Bậc thềm rêu xanh giữ lại dấu bước chân chậm.
Tối đó, mưa lâm thâm. Tiếng mưa rơi đều
trên mái ngói. Ông Tường ngồi ngoài hiên, nhìn khu vườn chìm dần vào bóng tối.
Trong bếp, bà Tường tiếp tục nhào bột. Mỗi lần tay ấn xuống, bà lại thở ra khẽ
khàng.
Bà nghĩ đến con dâu ở Nhật, nghĩ đến nhà
hàng xóm, nghĩ đến những món bánh quen mà mình không còn tự tay làm được. Bà nhận
ra mình đang so sánh. Và sự so sánh khiến lòng nặng hơn.
Ông Tường quay vào bếp lúc nào không
hay. Ông đứng cạnh bà, không nói, chỉ đưa tay phụ nắn bánh. Động tác chậm, vụng
về, nhưng đủ gần.
Bánh chín. Không đẹp. Không giống trong
video. Nhưng mùi bột ấm lan khắp gian bếp.
Hai người ngồi đối diện, ăn từng miếng nhỏ.
Ngoài hiên, mưa đã tạnh. Ánh đèn hắt xuống sàn gỗ, lên bậc thềm rêu xanh.
Huế, 30/12/2025
Ông Tường chợt hiểu: mỗi người giữ sợi
dây với con cái theo một cách. Ông chọn buông nhẹ. Bà chọn níu bằng những chi tiết
nhỏ.
Vòng quay của tuổi già chưa khép. Nhưng
chậm lại. Và vừa đủ để họ còn nhìn thấy nhau, còn ngồi chung một gian bếp,
trong căn nhà cũ vẫn nhớ bước chân người.
Tác giả: Đặng Văn Tạo HT69 Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Ơ kìa, đúng cậu bé ấy. Nó
cõng một đứa em, vai đeo bị. Sau lưng nó cũng là một đứa em nữa, cũng đeo bị.
Chúng đi dọc đường ga. Cái cậu bé chừng mười bốn, mười lăm tuổi ấy mặt mũi khôi
ngô nhưng trông tội tội thế nào, thương thương thế nào. Đúng nó.
Cách đây một tuần, ba anh
em chúng nó vào xóm nhà tôi ăn xin. Tay thằng anh cầm một cái bát sắt sứt. Trời
rét mà chúng mặc phong phanh, môi đứa nào cũng tái nhợt. Chả có gì cho, vì cuối
tháng lương. Tiền hết, gạo cạn. Nghĩ thương hại, tôi cho đứa anh một cái áo và
một cái ruột bông nhỏ để nó khoác cho đứa bé trên lưng. Thằng anh tỏ vẻ cảm ơn
lòng tốt của tôi. Tuy nhiên, nó không dám nhìn thẳng vào tôi, đôi mắt nó chỉ
dám nhìn xuống. Tiếng nó khẽ khàng: “Cháu cảm ơn chú!”. Trời rét quá!
Cái áo đông xuân đen tôi
vẫn mặc, trông cũng còn được. Từ bụng đến cổ là cái Phéc-mơ-tuya trắng lóa rạch
thẳng băng. Tôi giúp nó mặc vào, kéo phéc-mơ-tuya trơn tru kín cổ.
Thế mà hôm nay thấy nó.
Vẫn cái áo vỏ bông xanh bạc phếch rách nham nhở như chuột nhấm. Nó vẫn cõng một
đứa, còn một đứa theo sau. Chúng nó đi ngược chiều tôi. Chúng đi chậm chạp, mặt
cúi xuống, lếch thếch, uể oải. Dáng không có gì là vội vã cả. Rồi khuất hẳn.
Tôi đã rẽ đường khác.
Tôi cứ nghĩ vẩn vơ. Cái
áo của mình thật vô duyên. Phải rồi, có nhẽ sau khi tôi ân cần mặc cho nó, sau
khi tôi nhẹ nhõm vì lòng tốt nhỏ nhoi của mình, sau khi kéo kín cái
phéc-mơ-tuya đến cổ cho nó, sau khi nó khẽ khàng bối rối tỏ lòng biết ơn tôi…
ba anh em nó rời khỏi cửa nhà tôi để ra đường phố tiếp tục kiếm sống với bị cói
trên vai, có lẽ thằng anh đã phải đặt em nó xuống đất để cởi chiếc áo của tôi
ra. Làm sao nó lại có thể mặc cái áo đông xuân đen nhánh với cái rách
phéc-mơ-tuya trắng tinh từ bụng lên tận cổ của tôi mà đi ăn xin được. Trông nó
chướng thế nào ấy. Mặc vào mà lếch thếch đi ăn xin với cái áo ấy đúng là khó
coi thật. Áo không hẳn là mới nhưng còn tươm. Vì chính tôi, một anh phó tiến sĩ
nội địa hẳn hoi, vẫn mặc đi làm.
Vậy thì nó phải đem đi
bán đi chứ, không thể giữ để mặc được. Nhưng tôi sợ với cái thế của nó, một đứa
đi ăn xin với hai đứa em lếch thếch, nhỡ đem bán người ta lại bảo nó là ăn cắp
thì sao. Nếu có không dám bán, lại không dám mặc thì nó phải nhét vào bị. Trên
lưng là một đứa em, sau lưng một đứa nữa lẽo đẽo đeo bị, cái áo chỉ một ký
nhưng cũng lại thành gánh nặng cho nó trên đường. Thật tai hại.
Tôi cứ nghĩ vẩn vơ mãi về
cái áo tai hại của mình như một người chớm mắc bệnh tâm thần.
"Ước
gì ngày mai trời nắng để nhà em phơi măng". "Ước gì mẹ em ở dưới Bình
Dương mau về". Đó là hai điều ước trẻ thơ tôi nhớ mãi vì nó giản dị như
mưa nắng quê nhà, gói ghém nỗi mong nhớ hơi ấm người thân của bao đứa trẻ quê
sống xa ba mẹ.
Hai
đứa trẻ Phú Riềng (Bình Phước) ghi xuống điều ước ấy có đôi mắt sáng đẹp như
sao. Nhìn vào đôi mắt như những đóa - hoa - trời ấy, tôi nhớ một đóa hoa trời
bé xíu khác khóc ư ử cái đêm mẹ trao em cho người chị lớn bồng để lên xe từ Krông
Bông (Đắk Lắk) đi Sài Gòn - nơi cưu mang cả gia đình bằng nghề rửa chén của
chị.
Trong
những chuyến đi tìm hiểu về sự học của trẻ em, đến những ngôi nhà hẫng hụt hơi
ấm, tôi lại nhớ ánh mắt như bầu trời có đám mây xám bay ngang của cậu bé Thạnh
Phú (Bến Tre) khi em nói "ba con đi ghe trấu chưa về". Ba em đã đi
mãi không về. Từ sâu thẳm, cậu bé vẫn mong một ngày chiếc ghe trong giấc mơ trở
về...
Một
cô bé khác cũng ở Bến Tre hay khiến chúng tôi nhớ đến ánh mắt kiên nghị và câu
nói quả quyết "để từ từ con tính!". Đó là phép trì hoãn của em mỗi
khi ông bà gợi ý "hay thôi con nghỉ học đi, chắc ông bà không kham được
thêm". Ông bà thương cháu lại rớt nước mắt bám vườn lo cho đứa cháu côi
cút ham học.
Nghe
em tâm sự mà thương biết bao đôi mắt lấp lánh kia đã bao nhiêu lần thẫm màu
chiều vì nỗi lo sợ phải bỏ học. Như thương biết mấy đôi mắt ướt như bầu trời
sũng nước khi ôm lấy chúng tôi của cô bé Hòa Lạc (An Giang) sống cùng bà cố
tuổi đã 90. Cháu đến trường và bà đi qua ngày qua tháng bằng xấp vé số...
Ghé
lại bao làng quê từ Tây Nam Bộ đến Đông Nam Bộ, tôi gặp không biết bao nhiêu
đứa trẻ được nuôi nấng bằng bàn tay của ông bà như thế. Đôi bàn tay lạnh của
người bà gần 80 ở Hòa Lạc mỗi ngày đi rửa chén thuê kiếm 50.000 đồng. Đôi bàn
tay móng nhuốm đen của người bà ở Tân Biên (Tây Ninh) đi tìm rau càng cua mọc
hoang. 10kg càng cua đủ mua tập, bút cho cháu. Đôi bàn tay xanh xao của người
ông người bà ở Trà Ôn (Vĩnh Long) nuôi cháu bằng nghề đan rổ, đan miệt mài mỗi
khi sắp mùa tựu trường... Vất vả nhưng đầy tình thương, mong cho con cháu có
nhân duyên học hành thay cả cho mình, những người ông người bà nhân dáng héo
hon ấy vẫn làm nở những đóa sao trời trong mắt trẻ - sự lấp lánh của đứa trẻ
được quan tâm, săn sóc.
Nhiều
đứa trẻ ấy sau mấy năm chúng tôi dõi theo vẫn đang bám trường bám lớp và học
thật giỏi. Nhìn vào những tia sáng trong mắt các em, tôi thấy lòng mình cũng
sáng lên như những lúc đếm sao trời.
Điều
gì làm nên ý chí học hành và niềm vui ít vắng mặt nơi các em? Tình yêu của
những tình thân? Sự nuôi dưỡng của thiên nhiên bao la bí ẩn ở thôn làng? Những
tình - yêu - tìm - thấy với kiến thức vô biên em góp nhặt mỗi ngày? Hay phải
chăng trẻ em thường giàu có niềm vui hơn người lớn vì chúng ít ngã chấp
hơn.
Ta phải được quan tâm, yêu thương như thế nào mới là đủ? Ta phải được người đời trọng vọng ra sao? Ta phải có được hay dư dả bao nhiêu tiền bạc, tài sản? Không mang vác những câu hỏi đó, lòng trẻ nhẹ nhõm bao nhiêu...
Trong năm kinh tế thấm đòn sau đại dịch, Tết dường như đến muộn, hoa xuống phố chưa nhiều... Một buổi tối chơi trò "cá sấu lên bờ" với đám trẻ hàng xóm, tôi bỗng thấy xuân về ngay giữa những tiếng cười nắc nẻ.
Đứa
trẻ sống cùng mẹ trong căn nhà trọ chật chội, mắt ngời, cười to nhất. Mắt cười
của cô bé làm tôi nhớ những đôi mắt cười của bao đứa trẻ vốn lớn lên trong
những gia cảnh khó khăn. Những đóa sao ấy như nói với tôi: Thứ quý giá ta có
thể trao tặng cho mọi người không phải là vật chất mà một tấm lòng trong veo,
một tinh thần sống an nhiên với hiện tại...
Thứ
mà người lớn chúng ta có thể tặng cho trẻ thơ là trang bị cho các em một thái
độ sống lành mạnh, từ những cuốn sách ta trao, từ cách ta sống hằng
ngày...
Ta
không thể mang đến một người cha cho cậu bé mang tên Hoài Hận, nhưng ta cảm
động biết bao khi em càng trưởng thành càng hân hoan, bởi tình yêu với sự sống
được vun bồi từ sự học - học ở sách vở và ở tình yêu của những người thương quý
em...
Xuân
về, hình dung niềm vui trong mắt những bạn nhỏ ngóng ba mẹ mưu sinh nơi xa trở
về, niềm vui giở sách (được tặng) của những đứa trẻ mình có duyên gặp gỡ; bất
giác tôi nhẩm đọc những câu thơ của bạn: "Bé con ơi/ Vì bất cứ nơi nào
cũng có thể mọc lên những bông hoa/ Nếu còn ai giở sách/ Nếu còn ai mơ mộng/
Nếu còn ai tin yêu/ Thì chúng mình hãy tin phép lạ vẫn còn nhiều/ Như tình yêu
không bao giờ biến mất/ Và lấp lánh luôn là điều có thật..." (Sâm
Cầm).
Những
câu thơ trong trẻo như lời chúc chúng tôi thầm gửi đến những "mặt trời bé
con" đang chờ Tết... Dù bốn mùa thay lá, đường dài còn nhiều mưa gió làm
rơi rụng những thơ ngây; mong những đóa hoa trời ấy vẫn lấp lánh sắc tin yêu...
22 năm trước, một ngày tháng Chạp, thầy dạy Hóa dặn tôi xuống phòng thẩy, "thầy có việc nhờ em giúp".
Cuối buổi, tôi men theo lối nhỏ từ phòng học đến khu nội trú của giáo viên để gặp thầy.
Thầy nhờ tôi giúp thầy, may chiếc áo cho... chính tôi. Rồi thầy đưa tôi xấp vải trắng, bảo đó là xấp vải thầy được tặng dịp 20/11 trước đó, không dùng đến. Thầy muốn tôi có áo mới, kịp đón Tết. Tôi nghe xong, vừa mừng, vừa xúc động đón nhận xấp vải trắng còn thơm mùi vải. Tôi cúi đầu cảm ơn thầy. Lòng vui như Tết.
Có lẽ, dẫu chỉ dạy bộ môn, nhưng thầy quan sát thấy tôi mặc hoài một hai chiếc áo, lại cũ kỹ, thâm kim. Có lẽ thầy nghe nhiều người "đồn" về tôi, một cậu học trò nghèo thiệt nghèo, vượt khó đến trường nên cảm thông, muốn chia sẻ...
Bấy giờ nhà tôi nghèo thiệt. Ngoại tôi 70 tuổi, lụm cụm, bệnh đau quanh năm không làm gì được. Má tôi ngoài bốn mươi nhưng cũng không khá hơn, lại đóng vai trò trụ cột. Hồi ấy, mỗi đầu năm học má đều vô xã chứng giấy xác nhận gia đình mình thuộc hộ "Đói" để tôi được miễn học phí.
Tết đến, có nhiều năm má tôi phải mua chịu ký thịt heo, chờ đến mùa lúa mới đong thóc trả cho người ta. Những bữa chợ cuối năm, má cắt buồng chuối sau vườn, bắt con gà trống tơ đem bán rồi mua mấy lọn giấy mới dán bàn thờ, ít bánh mứt cho có không khí... Những cái Tết nghèo ấy tôi nhớ mãi. Do vậy, xấp vải may áo mới thầy tặng là món quà tuyệt vời nhất tôi nhận được bấy giờ.
Tôi đem xấp vải về kể, má và ngoại nghe xong cũng xúc động, dặn dò: "Con thấy ai cũng thương và ủng hộ con hết, nên phải cố gắng lên nghe". Ngoại tôi động viên, "không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời" để tôi không nản lòng bỏ cuộc.
Tháng 7 năm ngoái, nhân dịp 20 năm rời trường phổ thông trung học, tôi và các bạn trở lại trường xưa. Gặp thầy và bạn, tôi lại nhớ về xấp vải trắng và chuyện tấm áo Tết thầy trao. Nhờ món quà của thầy mà năm đó, má tôi kịp may cho tôi chiếc áo học trò tinh tươm, vừa mặc ăn Tết vừa mặc đi học.
Tôi không phải là người giàu có nhưng so với năm tháng đó, cuộc sống đã tương đối ổn định. Có một công việc yêu thích và chút ít niềm vui trong cuộc sống nhờ thực tập "ít muốn, biết đủ". Tôi nhớ thầy và tấm áo ngày nào nên thỉnh thoảng cũng tập tành chia sẻ, học làm người tử tế.
Quan sát thấy được khó khăn của người. Tinh tế trao món quà để món quà không chỉ mang giá trị vật chất thông thường, mà còn mang cả động lực tinh thần cho người nhận, "của cho không bằng cách cho" - tất cả cần có tâm lớn. Đó là bài học lớn nhất tôi nhận về khi thầy trao cho xấp vải may đồ Tết.
Bạn có những người thầy thật dễ thương như vậy không?
Tôi nghĩ, trong suốt cuộc đời của mình, chắc ai cũng có những người thầy đặc biệt. Có thể thầy không giúp học trò có áo Tết như tôi nhưng đã đỡ nâng người học bằng phương diện khác. Một lời khuyên đúng lúc. Một cuốn sách vừa tầm. Một lời nhắc nhở nghiêm khắc đủ chạm vào trái tim khiến học trò không còn "cá biệt" nữa... Rất nhiều câu chuyện ký ức ấy đọng trong trái tim học trò mà có khi thầy đã không còn nhớ, hoặc xem đó là việc-bình-thường.
Trong dịp Tết Nguyên đán, mùng ba được ấn định là "Tết thầy" theo truyền thống tôn sư trọng đạo của người Việt - là dịp để nhớ ơn người trao truyền tri thức, đạo đức trên bục giảng, ở nhà trường. Truyền thống này theo tôi rất hay, cần gìn giữ và nên phát huy giữa bối cảnh mối quan hệ thầy trò hiện tại đang có những biểu hiện theo chiều hướng không tốt.
Vai trò của người thầy từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây luôn quan trọng trong việc quyết định nhân cách của học trò. Ngoài truyền dạy kiến thức và lý thuyết thì "thân giáo", tức cốt cách, lối sống, "nói đi đôi với làm" trong ý nghĩa con người mô phạm sẽ giúp học trò mình tiến bộ. Nếu có may mắn gặp thầy cô tốt, người học trò đã tốt đã giỏi sẽ càng giỏi, càng tử tế, tốt đẹp hơn.
Không phải tự nhiên mà người Việt đặt người thầy vào "diện" tri ân báo ân trong mỗi dịp Tết Nguyên đán - đầu năm mới: Mùng một Tết cha, mùng hai Tết mẹ, mùng ba Tết thầy. Cha mẹ cho mình thân thể, nuôi mình khôn lớn, thầy cô cho mình tri thức, đạo đức để hoàn thiện bản thân. Nếu thiếu cái chữ, đạo làm người, lẽ sống và lý tưởng sống đẹp, không được thổi bùng khát vọng, nuôi lớn ước mơ thì con người đó khó trở thành người hữu dụng.
Ngày nay, dù vai trò người thầy không còn lớn như trước nhưng tình thầy trò, đạo đức về báo ân vẫn luôn cần nhắc nhớ để neo giữ tâm hồn người trẻ lại. Tất nhiên, để có sự tri ân sâu sắc của trò thì thầy cũng phải ra thầy, có tầm có tâm để học trò có chất liệu nuôi dưỡng tâm hồn. Không thể đòi hỏi một sự biết ơn nếu người lớn không gieo được hạt giống tốt lành cho người nhỏ, dù là trong mối quan hệ nào.
Một hành động có tâm của thầy có thể là bệ phóng cho một con người.
Ở thành phố kia có một bác thợ rèn, bác có một người con trai duy nhất. Bác
rất quý anh vì từ bé tới lớn anh đều là một con người xuất chúng Anh vừa đẹp
trai vừa giỏi giang, làm bố rất tự hào. Một ngày nọ, không may anh bị tai nạn
xe hơi, tuy giữ được tính mạng nhưng lại bị mất cả hai chân. Tuyệt vọng, hang ngày
anh ngồi ủ rũ trong phòng, im lặng nhìn ra cửa sổ.
Một ngày sau người con trai tỉnh, bác thợ rèn mang đồ ăn tới cho con. Anh con trai tức giận hất đổ khay đồ ăn, rồi chỉ chiếc bát vỡ dưới nền, nói:
– Cha à, cha cứu con làm gì, cuộc đời
con giờ như chiếc bát vỡ kia rồi, mãi mãi không lấy lại được nữa!
Người cha già tội nghiệp lặng lẽ xoa đầu người con trai, vỗ về rồi giúp anh
nằm nghỉ. Xong ông dọn dẹp những thứ dưới đất, đôi mắt ông đỏ hoe.
Một tuần sau anh được đưa trở nhà. Anh thấy trên bàn mình có một chiếc bát
sắt. Anh lấy làm lạ lẫm.
– Con có biết nguồn gốc chiếc bát sắt
này không, con trai?
– Ưm…ý cha là? – Anh ấp úng nói.
– Chính là chiếc bát sành hôm trước đó
con, cha cho nó vào lò nung, cho thêm sắt nữa, rồi đúc ,thế là nó trở thành
chiếc bát sắt này đó con.
Ông tiếp:
– Con à, cuộc đời chúng ta có lúc sẽ như
chiếc bát vỡ. Nhưng chỉ cần ta cho thêm khát vọng sống rồi nung trong ý chí,
xong đúc trong tình yêu thì mọi chuyện sẽ lại ổn con à. Thì dù có đập, có ném
thế nào ta cũng sẽ không bao giờ vỡ nữa đâu con.
– Vâng, thưa cha, con đã hiểu.
Nói rồi anh vươn người ôm lấy cha mình. Cả hai cha con cùng khóc vì xúc
động.
(Người đăng : Bảo Trang)
Năm ngoái được thăng chức giám đốc, cha thay đổi thói quen đột ngột: cha vặn đồng cho chạy chậm năm phút. Tôi thắc mắc, hỏi tại sao, cha trả lời: "Phải nghiêm khắc với chính mình nhưng lại rộng lượng với người khác con ạ!"
Chẳng bao lâu chiếc mũ đầy tiền. Ngày càng nhiều người cho tiền cậu bé mù.
Chiều hôm đó, người đàn ông đã sửa tấm bảng đến xem sự việc ra sao. Cậu bé nhận ra tiếng bước chân ông và hỏi. “Bác có phải là người đã sửa tấm bảng của cháu sáng nay phải không ạ? Bác đã viết gì vậy bác?”
Người đàn ông trả lời, “Bác chỉ viết sự thật mà thôi. Bác viết những gì cháu viết nhưng diễn đạt khác.”
Những gì ông ta viết là : “Hôm nay là một ngày tươi đẹp và tôi không thể nhìn thấy nó.”
Đương nhiên là cả hai tấn bảng đều nói với mọi người rằng cậu bé bị mù. Nhưng tấm bảng thứ nhất chỉ đơn giản là cậu bé bị mù. Còn tấm bảng thứ hai nói với mọi người rằng họ thật may mắn vì họ không bị mù. Hẳn chúng ta thật ngạc nhiên khi thấy tấm bảng thứ hai công hiệu hơn, đúng không ?
Nhiều ngày kế tiếp nhau, vẫn tiếng đóng cửa và tiếng dép vào đúng giờ ấy khiến tôi không sao chịu nổi.
Mẹ tôi khuyên: "Thôi con à, chúng ta mới đến, con đừng vội, kẻo làm mất lòng hàng xóm".
Tôi đem chuyện ra than thở với mấy người trong xóm. Có người khuyên: "Bà và chị cố gắng chịu đựng tiếng đóng cửa đó một thời gian. Chắc sẽ không lâu đâu..."
Rồi người ấy nói tiếp: "... Nửa năm trước, người cha bị tai nạn xe qua đời; người mẹ bị ung thư, liệt giường, không đi lại được. Tiếng đóng cửa đó là của người con. Hoàn cảnh khá đáng thương, xin bà
và chị thông cảm! "
Cậu thanh niên này mới chỉ độ 16 tuổi. Tôi tự nhủ: "Trẻ người non dạ, cố chịu đựng thôi".
Cậu bé mở cửa, hốt hoảng xin lỗi: "Dì thứ lỗi, cháu sẽ cố gắng cẩn thận hơn..."
Thế nhưng, cứ khi tôi vừa thiu thiu giấc ngủ, tiếng đóng cửa quen thuộc lại vang lên đập vào tai tôi như thách thức.
Mẹ tôi an ủi: "Ráng đi con, có lẽ nó quen rồi! Từ từ mới sửa được..."
Tôi nằm trên giường nín thở lắng tai nghe, tiếng khép cửa thật nhỏ, và bước chân nhẹ nhàng cẩn thận.
Tôi nói với mẹ: "Mẹ nói đúng thật!"
Nhưng tôi bỗng bất ngờ… khi thấy hai mắt mẹ tôi ngấn lệ.
Mẹ tôi nghẹn ngào nói: "Mẹ thằng bé trên lầu đã ra đi rồi, tội nghiệp thằng bé, ban ngày đi học, đêm đến quán chạy bàn. Nó cố gắng đi làm thêm để kiếm tiền chạy chữa cho mẹ, nhưng rồi bà ấy vẫn không qua khỏi."
Cậu bé cúi thấp đầu, tiến đến gần tôi và nói: "Dì! Nhiều lần cháu làm Dì mất ngủ, cháu xin Dì tha lỗi".
Rồi cậu nói trong tiếng nấc: "Mẹ cháu mỗi ngày một yếu, nói không được, nghe không rõ, cháu đóng cửa mạnh để mẹ biết cháu đã về, có thế bà mới an tâm ngủ. Nay mẹ cháu không còn nữa, Dì ạ..."
Nghe câu chuyện, tôi bỗng cảm thấy như bị ù tai, lệ từ hai khóe mắt tôi bỗng tuôn trào ra... Tôi thấy mình quả là vô tâm, thiếu cảm thông với hoàn cảnh của người khác.
Cảm thông là tối cần trong các mối quan hệ và lòng khoan dung là quà tặng đáng giá nhất trên đời.
Xin Bạn đừng bao giờ khép lại lòng mình.
Cầu mong cho con người chúng ta luôn hướng đến một nhịp đập trái tim quảng đại, tấm lòng vị tha, nhân ái, vượt qua những suy nghĩ tầm thường, để mặc lấy tâm tình yêu thương.
Tạo Hóa ban tặng riêng chỉ có ở "Con Người"...
Tác giả: Sưu tầm
https://truyenngan.net/qua-tang-cuoc-song/su-thay-doi.html
Có một chú ếch được thả vào một cái nồi nước lạnh. Cái nồi nước đó không hề đậy vung và rồi được để lên một cái bếp. Ban đầu, nước vẫn còn lạnh thì chú ta không hề có phản ứng gì. Sau đó, nước cứ từ từ ấm dần lên, nhưng chú ta không hề để ý được đến điều đó. Tại sao ư? Tại vì nhiệt độ của nồi nước tăng lên từ từ và khiến chú ta quen với điều đó
Càng
về sau, nồi nước càng tăng nhiệt độ, nhưng chú ếch vẫn không hề để ý đến điều
đó vì nhiệt độ chỉ tăng từ từ mà thôi.
Đến
khi nước sôi thì chú ta mới bắt đầu cảm thấy không thoải mái, nhưng lúc này đã
muộn rồi. Chú ếch đã được luộc trong nồi nước đó.
Đây là một câu chuyện kinh điển về sự thay đổi. Vì nồi
nước cứ nóng dần dần khiến chú ếch không hề để ý đến và cuối cùng là bị chết
trong nồi nước sôi. Giả sử, nếu thả chú ếch đó vào nồi nước khi nước đã nóng
rồi và cũng không đậy vung thì chắc hẳn chú ếch sẽ cố mà nhảy ra cho được.
Cuộc sống con người cũng thế. Chúng
ta đã quen với những việc thường ngày đã xảy ra và không hề muốn thay đổi, hay
thậm chí sợ sự thay đổi, sợ tiếp nhận cái mới. Nhưng thực tế thì cuộc sống của
chúng ta thay đổi hàng ngày và nếu chúng ta không chú ý đến thì cũng lại đã quá
muộn.
Còn khi đối diện với một sự thay đổi
rõ rệt thì khi đó ta cuống lên, ta sợ. Liệu khi đó ta có thể đối diện được với
sự thay đổi hay không? Ta có thể chấp nhận sự thay đổi hay không? Khi đó có là
quá muộn không?
Hãy luôn chuẩn bị sẵn sàng cho mọi
sự thay đổi.
Hãy nhìn nhận cẩn thận mọi thứ đang diễn ra xung quanh mình.
Hãy đối diện và chấp nhận những thay đổi đang diễn ra để bản thân thay đổi theo nó cho phù hợp
(Người đăng : Bảo Trang)
Một giáo sư
đang trong giờ giảng về cách quản lý thời gian. Ông đặt vài thứ trước mặt. Đầu
tiên, ông lấy một cái bình to và bắt đầu cho vào đó những quả bong chơi golf.
Sau đó, ông hỏi các sinh viên : “Theo các bạn, bình đã đầy chưa ?”. “Rồi ạ !”, các sinh viên trả lời.
Giáo sư lại
lấy ra một hộp đựng đầy bi và đổ vào bình. Rồi lắc lên cho bi rơi lấp vào
khoảng trống giữa những quả bóng. Ông lại hỏi lần nữa và các sinh viên, lần này
có vẻ ngập ngừng hơn, trả lời: “ Có lẽ là rồi ạ.”
Lần này,
vị giáo sư lấy ra một xô cát, và cũng đổ vào bình. Tất nhiên, cát lấp đầy các
khe hở. Ông hỏi lại và các sinh viên lần này đồng thanh: “Rồi ạ !”
“Hãy xem
này ” giáo sư nói và lấy ra hai lon bia, đổ vào bình. Bia tràn vào giữa những
hạt cát.
“Bây giờ,” giáo sư nói, “tôi muốn các bạn hãy tưởng tượng cái bình này như cuộc đời của
mình.
Bóng golf
tượng trưng cho những điều quan trọng – gia đình, con cái, sức khoẻ, bạn bè,
đam mê – những điều mà nếu mọi thứ khác mất đi, thì chỉ mình chúng vẫn có thể
làm cuộc sống của bạn đầy đủ.
Những viên
bi là thứ khác, nhỏ nhặt hơn – nghề nghiệp, nhà cửa, ôtô. Còn cát là những gì
vặt vãnh còn lại.”
“Nếu các
bạn cho cát vào trước”, giáo sư tiếp tục, “sẽ không còn chỗ cho bi và bóng
golf nữa. Cuộc đời cũng vậy. Nếu dành tất cả thời gian và năng lượng cho những
việc vặt vãnh, bạn sẽ không bao giờ làm được những điều quan trọng.
Hãy ưu
tiên làm những việc thực sự cần thiết trước. Dành thời gian cho con cái, kiểm
tra sức khỏe, đi ăn với gia đình, làm những việc mình thích. Sau khi đã làm tất
cả những điều đó, chắc chắn bạn vẫn còn thời gian cho những thứ nhỏ nhặt như
lau dọn nhà cửa, sửa chữa đồ đạc. Vì thế, hãy luôn ưu tiên những quả bóng, và
đặt chúng vào bình trước tiên.”
Khi người
thầy dừng lại, lớp học vẫn im lặng một hồi. Bỗng có cánh tay giơ lên, và một
sinh viên hỏi: “Thưa giáo sư, vậy bia tượng trưng cho cái gì ? ”
Giáo sư
mỉm cười hài lòng, “Một câu hỏi hay. Bia, tôi chỉ muốn nói với các bạn rằng,
ngay cả khi các bạn thấy cuộc sống của mình đã quá bận rộn và đầy đủ thì, vẫn
luôn còn thời gian cho một chầu bia ! ”
Khi thấy
mình có quá nhiều việc phải giải quyết, và 24 giờ mỗi ngày là không đủ, thì bạn
hãy nghĩ đến chiếc bình này, đặt những quả bóng vào trước. Và… đừng quên những
cốc bia !
(Người đăng : Thu Giang)
https://truyenngan.net/qua-tang-cuoc-song/khong-sua-chua.html
Một cô gái đang ngồi chờ chuyến bay của
mình trong phòng chờ ở một sân bay lớn. Để giết thời gian chờ một tiếng, cô mua
tạp chí để đọc và một gói bánh ăn cho đỡ đói. Cô ngồi trong phòng VIP, nghỉ
ngơi và giở sách ra đọc trong thanh thản.
Cùng trên ghế chờ, bên gói bánh, một người
đàn ông cũng ngồi xuống, mở báo và lặng lẽ đọc. Khi cô gái ăn chiếc bánh đầu
thì người đàn ông cũng nhón ăn chiếc bánh tiếp theo. Tuy không nói gì nhưng cô
cảm thấy bực bội trong lòng, cô tự nghĩ : “ Thật điên rồ ! Nếu ta không lịch sự thì sẽ cho mi biết sự tự nhiên lố
bịch của mi ! ”.
Cứ mỗi lần cô nhón ăn một chiếc, thì người đàn ông kia
lại nhón ăn chiếc bánh tiếp theo. Trong lòng cô, sự bực bội dần lên cao, tuy
nhiên cô kiềm chế được nên chưa bộc lộ ra. Khi chỉ còn lại một chiếc bánh duy
nhất, cô nghĩ: “ À được…
thử xem người đàn ông ngỗ ngược này, mi sẽ xử lý sao đây ? ”.
Nhưng hắn bình tĩnh bẻ chiếc bánh làm đôi và mời cô dùng
một nửa chiếc. Ôi ! Thật
quá mức ! Trong khi cô đang còn đói ! Cô đứng phắt dậy, gấp sách lại,
giành lấy nửa bánh của mình rồi đi thẳng ra máy bay. Khi đã vào trong máy bay,
ngồi xuống ghế, cô lục túi tìm kính đeo của mình, thì thật ngạc nhiên trong túi
xách của cô còn nguyên gói bánh chưa được mở ! Cô cảm thấy hổ thẹn về hành động
sai sót của mình… Cô đã để nguyên gói bánh trong túi mà chưa hề mở ra ăn ! Còn người đàn ông kia đã chia phần
bánh của họ cho cô, nhưng họ không hề tức giận, không hề điên khùng và khó
chịu… Khi cô đang rơi vào trạng thái bối rối, hổ thẹn, nghĩ về người đàn ông
kia thì thời gian cũng không còn để cô có thể giãi bày… để có thể tạ lỗi !
Trong cuộc sống, có bốn điều mà ta không sao sửa chữa được:
– Khi hòn đá… đã ném đi.
– Khi lời nói… đã buông ra.
– Khi cơ hội… đã bỏ lỡ.
– Khi thời gian… đã trôi qua.
(Người đăng : Bảo Trang)
https://truyenngan.net/qua-tang-cuoc-song/co-gang-trong-tung-viec-nho.html#more
Một sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học đến Thẩm Quyến tìm việc làm, ròng rã cả tuần hết nơi này đến nơi khác mà chẳng có kết quả gì, lại không may khi đi xe buýt bị kẻ trộm móc ví, mất hết cả tiền lẫn giấy tờ tùy thân.
Sau 2 ngày bị đói rét, anh ta đành phải đi bới rác để qua
ngày. Một hôm, đang lúi húi bới rác, anh ta bỗng cảm thấy có người đứng phía
sau nhìn mình, ngoảnh lại thấy đó là một người đàn ông đứng tuổi. Người đàn ông
này chìa ra một tấm danh thiếp: “Công ty này hiện đang cần tuyển người, cậu hãy
đến đó xem sao?”.
Hôm sau cậu sinh viên nọ tìm đến nơi theo địa chỉ. Tại đây đang diễn ra một
cảnh tượng náo nhiệt: Có tới 50 – 60 người đang đứng chờ trong một gian phòng,
trong số đó rất nhiều người mặc complet nghiêm chỉnh, thấy vậy cậu ta tỏ vẻ e
ngại, định thoái lui, nhưng rồi cuối cùng vẫn cứ ngồi chờ ở đó.
Khi anh ta đưa ra tấm danh thiếp thì cô nhân viên tuyển người chìa tay ra:
“Xin chúc mừng! Anh đã được nhận vào làm việc rồi. Đây là danh thiếp của Tổng
giám đốc chúng tôi, ông ấy đã dặn chúng tôi: Có một thanh niên đến xin việc,
chỉ cần anh ta đến là được tiếp nhận làm nhân viên của công ty chúng ta”.
Như vậy không phải trải qua bất kỳ một phỏng vấn nào, người sinh viên nọ
cũng được vào làm việc ở công ty. Về sau, do nỗ lực cá nhân, anh ta đã được đề
bạt làm Phó tổng giám đốc.
“Thế tại sao Ngài lại chọn tôi vào làm việc?”, nhân lúc nói chuyện phiếm,
người thanh niên nọ hỏi vị Tổng giám đốc. “Bởi vì tôi biết xem tướng, thấy cậu
là một nhân tài hiếm có!” Mỗi lần nghe hỏi, ông ta đều mỉm cười với một vẻ bí
ẩn.
Sau đó vài năm, công việc của Công ty ngày càng phát triển, vị Tổng giám
đốc phải đi đầu tư ở một thành phố mới. Trước khi đi, ông ta uỷ quyền cho người
thanh niên giải quyết mọi công việc ở xí nghiệp cũ.
Hôm chia tay, anh ta và vị Tổng giám đốc cùng ngồi đối diện trong phòng chờ
Hạng nhất tại sân bay. “Chắc cậu vẫn muốn biết vì sao tôi lại chọn cậu vào làm
việc phải không? Bữa đó ngẫu nhiên mình nhìn thấy cậu đang nhặt rác và đứng
quan sát rất lâu, thấy mỗi lần sau khi cậu nhặt lấy những thứ cần thiết, số còn
lại đều bỏ cẩn thận trở lại thùng rác. Khi ấy mình nghĩ, một người ở trong hoàn
cảnh khó khăn như thế mà vẫn làm những việc nhỏ cẩn thận, chu toàn , thì cho dù
người đó có trình độ học vấn và hoàn cảnh như thế nào thì mình cũng phải tạo
cho anh ta một cơ hội. Vả lại, một người ngay từ chuyện nhỏ như thế mà tỏ ra
không hề cẩu thả, thì chắc chắn sẽ thành công trong cuộc sống”.
(Người đăng An Nhiên)
(http://www.cuucshuehn.net/Truyen-ngan/20-Truyen-rat-ngan-dang-de-doc-va-suy-tu-3483.html)
- Con dừng lại giúp bạn con ạ. Xe đạp của bạn ấy bị hỏng.
- Nhưng con đâu có biết sửa xe?
- Đúng ạ, nhưng con dừng lại để giúp bạn ấy khóc.
Cũng như cô bé đó, không phải ai trong chúng ta cũng biết sửa xe đạp. Nhưng chúng ta biết chia sẻ những nỗi lo âu và sợ hãi. Cuộc sống là một con đường rất dài, sẽ còn nhiều lần gặp cảnh "hỏng xe" lắm. Chúng ta hãy cùng nhau chia sẻ và an ủi.
– Ba ơi,
tại sao ba không vứt chiếc xe cũ hay là bán nó đi hả ba?
Người cha
đáp:
– Con ơi,
đó là một vật kỷ niệm và là một bài học cho ta.
– Một bài
học? – cô bé thắc mắc.
– Ðúng vậy, này ta kể cho con nghe nhé.
Một hôm từ khi con chưa sinh ra đời, lúc đó ta vừa mua
chiếc xe đời mới nhất này và làm một chuyến đi xa đầu tiên. Ta đang chạy trên
đường thì bỗng nghe có vật gì đập mạnh vào cửa trước. Ta vội dừng xe và bước
xuống kiểm tra. Ta thấy một móp ngay cửa trước và cách đó không xa có một cô bé
trạc tuổi con bây giờ đang giơ tay vẫy bên đường. Cạnh cô có một chiếc xe lăn
và một cô bé khác đang ngồi dưới đất. Ta giận vô cùng chạy về phía cô bé và
thầm nghĩ: “Xem mày có chạy đằng trời”. Thế nhưng cô bé không có gì là có vẻ
muốn chạy trốn. Khi ta đến gần, cô bé nói:
– Chú ơi! Xin chú tha lỗi cho cháu, xin chú đừng giận.
Chính cháu đã ném viên sỏi vì có như thế chú mới dừng lại. Cháu buộc phải làm
thế vì cháu ra dấu dừng xe đã 3 tiếng đồng hồ mà không ai dừng xe giúp cháu
nâng em cháu lên xe lăn. Cháu yếu quá không nâng em nổi. Chúng cháu bị trượt
té.
Ta ngẩn người ra và vội giúp cô bé nâng em nó lên đặt vào
xe lăn.
(Người đăng : Bảo Trang)
https://www.kindspring.org/story/view.php?sid=44089
Bên dưới tấm khăn giấy lau miệng bà cụ còn lót tặng thêm bốn tờ giấy bạc 100 đô-la.
(Việt dịch ngày 11 tháng 9 năm 2009: TTB)
